Mỗi năm, cứ đến ngày 10 tháng 3
Âm lịch, người Việt ở khắp nơi đều hướng về đất Tổ để tưởng nhớ đến các
đấng tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước, theo đúng tinh thần và
đạo lý được đúc kết qua câu đối tại đền Hùng:
“Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Đà, non nước vẫn
quy về đất Tổ Văn minh đương buổi mới, con Hồng, cháu Lạc, giống nòi còn
biết nhớ mồ Ông”.
Xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt có lúc
thịnh lúc suy, có lúc hùng thiêng một cõi trời Nam, song cũng có lúc
chìm đắm trong lửa ngoại xâm, nhưng bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu, hễ có
người Việt yêu nước là ở đó có ngày giỗ Tổ.
Nhân kỉ niệm ngày giỗ Tổ hôm nay, trước hết, chúng ta hãy cùng nhau
lật lại từng trang sử cũ của dân tộc để nắm bắt và cảm nhận được những
gì thiêng liêng, cao quí, trong suốt quá trình khai nguyên lập quốc của
tiền nhân ta, cùng nhớ lại công ơn tiên tổ, và rút ra những bài học để
sống, để hành động, làm rạng danh con Hồng, cháu Lạc.
Theo truyền thuyết, vua Đế Minh, cháu ba đời vua Thần
Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Nghĩa Lĩnh, gặp nàng tiên, lấy
nhau, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục làm vua xưng đế hiệu là Kinh Dương Vương
và quốc hiệu là Xích Quỉ. Năm đó là năm 2879 trước Công Nguyên, tức là
cách nay (2009) 4888 năm. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là
Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm làm vua, xưng hiệu Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai là Âu Cơ, sinh một bọc chứa 100
trứng, nở ra 100 con. Sau, vì Lạc Long Quân là giống Rồng, Âu Cơ là
giống Tiên, không thể sống chung nhau, nên Lạc Long Quân dẫn 50 con về
miền biển, Âu Cơ dẫn 50 con lên núi.
Người con trưởng của Lạc Long Quân nối ngôi vua và xưng là Hùng
Vương, đặt tên nước là Văn Lang, kinh đô đặt tại Phong Châu, thuộc Bạch
Hạc (Phú Thọ ngày nay)
Như vậy, gia tộc đầu tiên lãnh đạo dân Việt là họ Hồng Bàng, truyền
ngôi nhau qua 20 đời vua: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 đời Hùng
Vương kế tiếp nhau trị vì từ năm 2879 đến năm 258 trước Công Nguyên,
tức là một triều đại kéo dài 2621 năm, thì bị nhà Thục cướp ngôi.
Rồng tượng trưng cho dương tính, uy quyền, sức mạnh; Tiên tượng trưng
cho âm tính, vẻ đẹp ôn nhu, hài hòa, nhân từ. Rồng Tiên đúc tạo cho con
người Việt có đầy đủ đặc tính: khỏe đẹp, có lý có tình, dũng cảm khôn
ngoan, biết quyền lợi mà cũng biết nghĩa vụ.
Dòng giống Rồng Tiên qua quá trình dựng nước và giữ nước đã áp dụng
một cách thành công triết lý mang tính cách truyền thống độc đáo của dân
tộc ta. Đó là triết lý “vuông tròn” qua sự tích và ý nghĩa của “Bánh
chưng, Bánh giầy”.
Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi bình định xong việc nước, tuổi đã già,
quyết định truyền ngôi cho người con nào có hiếu nhất. Nhà vua ra lệnh
người con nào dâng món ăn ngon nhất sẽ được truyền ngôi. Tiết Liêu,
người con út, dâng vua cha bánh chưng, bánh giầy làm bằng sản phẩm địa
phương: nếp, đậu, thịt. Bánh chưng thì vuông, bánh giầy tròn, tượng
trưng cho “đất” và “trời”: đất vuông, trời tròn. Nhà vua ăn bánh thấy
rất ngon và có ý nghĩa, bèn truyền ngôi cho Tiết Liêu, vì biết rằng
ngoài lòng hiếu thảo, Tiết Liêu còn biết cách trị nước có lý, có tình,
có phép tắc, có lòng nhân: đó là Vuông Tròn.
Ngoài ra, dân ta còn có truyền thống thương yêu, đùm bọc lẫn
nhau, với lối sống “bầu bí chung giàn”, quí trọng tình nghĩa “đồng bào”.
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.
Giỗ Tổ Hùng Vương – từ rất lâu đã trở thành ngày Giỗ trọng đại của cả
dân tộc; đã in đậm trong cõi tâm linh của mỗi người dân đất Việt. Dù ở
phương trời nào, người Việt Nam đều nhớ ngày giỗ Tổ, đều hướng về vùng
đất cội nguồn. Nơi đây chính là điểm hội tụ văn hóa tâm linh của dân tộc
Việt Nam. Từ ngàn đời nay Đền Hùng là nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao
các Vua Hùng, là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.
Kháng chiến thắng lợi với thiên sử vàng Điện Biên Phủ (7-5-1954),
ngày 19-9-1954, tại Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã căn dặn
cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô:
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy
nước”. Lời căn dặn cũng là lời hứa quyết tâm ấy của vị đứng đầu đất
nước, dân tộc đã được thực hiện vào mùa xuân 1975: Sau 30 năm gian khổ
hy sinh, nhân dân ta đã quét sạch bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi, giang san
thống nhất, quy về một mối vẹn toàn. Có lẽ không một dân tộc nào trên
thế giới có chung một gốc gác tổ tiên – một ngày giỗ Tổ như dân tộc ta.
Từ huyền thoại mẹ Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nửa theo cha xuống biển, nửa
theo mẹ lên rừng đã khơi dậy ý thức về tình dân tộc, nghĩa đồng bào và
gắn kết chúng ta thành một khối đại đoàn kết. Hai chữ đồng bào là khởi
nguồn của yêu thương, đùm bọc, của sức mạnh Việt Nam.
Mấy nghìn năm trông coi và gìn giữ, đánh giặc và dựng
xây, đền Hùng đã trở thành biểu tượng của tinh thần dân tộc, là cội
nguồn của sức mạnh, niềm tin, chói sáng của một nền văn hóa. Từ trong ý
thức tâm linh cả dân tộc luôn hướng về:
“Nước mở Văn Lang xưa
Dòng vua đầu viết sử
Mười tám đời nối nhau
Ba sông đẹp như vẽ
Mộ cũ ở lưng đồi
Đền thờ trên sườn núi
Muôn dân đến phụng thờ
Khói hương còn mãi mãi“.
Lịch sử như một dòng chảy liên tục. Trải mấy nghìn năm,
trước bao biến động thăng trầm, trong tâm thức của cả dân tộc, Đền Hùng
vẫn là nơi của bốn phương tụ hội, nơi con cháu phụng thờ công đức Tổ
tiên.